Không được “nói không” với công việc
Tốt
nghiệp Cao đẳng Bách khoa Hà Nội năm 2002, chàng trai quê nhãn Hưng Yên
Nguyễn Thái Hưng được nhận vào nhân viên kỹ thuật điều hành di động
Viettel. Lúc này mạng di động Viettel mới bắt đầu xây dựng, công việc
ngổn ngang, lắp đặt trạm BTS phải thực hiện cả đêm lẫn ngày. “Dường như
không bao giờ những người xây dựng trạm BTS không được nghỉ, từ trong
suy nghĩ đến hành động, rằng, nhiệm vụ, kế hoạch mà Tổng Công ty đặt ra
luôn nặng nề…” nhớ lại những ngày đầu vác đồ nghề đi xây dựng trạm BTS
với chồng chất những khó khăn, anh Hưng kể.
Nguyễn
Thái Hưng là người thuộc ban điều hành, nhưng lúc này còn thiếu nhân
lực, nên hầu hết các công việc phải bắt tay vào thực hiện. Ban đầu, kỹ
thuật về xây dựng trạm hầu như không có, phải học qua các chuyên gia của
Ericsson. Theo quy định của Tổng Công ty, thì phải đi cùng các chuyên
gia, lắp đặt 10 trạm, mới được tự mình lắp đặt riêng. Tuy nhiên, Hưng và
các đồng nghiệp mới đi theo các chuyên gia được 2 trạm đã học hết
“bài”, và bắt đầu “độc lập tác chiến”! “Những tưởng mọi chuyện đơn giản,
nhưng khi bắt tay vào xây dựng, lắp đặt mới biết nó cực kỳ phức tạp,
không dễ như cách nghĩ của người mới ra trường…” – Nguyễn Thái Hưng kể.
Tuy nhiên, ngày qua ngày, từng trạm, từng trạm một được lắp đặt. Trong
những lúc khó khăn, thất bại, Hưng đề ra phương châm cho mình và cho anh
em trong tổ là phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Mỗi trạm BTS được phát
sóng, là thành quả của nỗ lực không biết mệt mỏi của Hưng và anh em.
Tuy
nhiên, khắc phục được những khó khăn về kỹ thuật, lại gặp một khó khăn,
trở ngại còn lớn hơn, mà nhiều trạm tưởng chừng như không thể xây lắp
được, đó là sự phản đối của người dân. Giải quyết khó khăn khi gặp phải
sự phản đối của người dân là không hề đơn giản. Hưng lại là người trực
tiếp thực hiện công tác “dân vận” – giải thích rõ cho nhân dân hiểu
đúng, hiểu đủ về sóng di động, hoạt động của trạm BTS. Quá trình giải
quyết những khó khăn vướng mắc này, Hưng tự mình rút ra kinh nghiệm
rằng, trước khi xây lắp bất kỳ ở đâu cũng phải tổ chức họp dân, trả lời
rõ ràng các thắc mắc của họ. Mặt khác, cần phải phối hợp chặt chẽ với
chính quyền địa phương để thực hiện một cách trình tự và bài bản. “Bất
kỳ việc lắp đặt ở đâu, lúc nào cũng phải có sự liên hệ chặt chẽ với
chính quyền địa phương, tổ chức đoàn thể, các hộ dân để kịp thời thông
báo cũng như phối hợp giải quyết những khó khăn, vướng mắc… “ anh Hưng
cho biết.
Nguyễn
Thái Hưng cũng là người xung phong đi các vùng miền xa xôi. Trong những
ngày đầu, Hưng xung phong vào khu vực miền trung, bám trụ tại Đà Nẵng.
Ap lực công việc, theo Hưng đó là Viettel phát triển với tốc độ quá
nhanh, nên mọi người, mọi vị trí công việc phải “thần tốc” để theo kịp
sự phát triển đó. Khối lượng công việc thường nặng gấp 5-6 lần. Từ năm
2003 đến nay đã có hơn 8.000 trạm BTS được xây dựng và phát sóng, trong
đó có khoảng 7.000 trạm do Công ty công trình lắp đặt. Cũng theo Hưng, ở
Viettel, dường như phải đặt vào chỗ chết để mà tìm ra đường sống. Mặt
khác, dù gặp bất kỳ khó khăn gì cũng không bao giờ được “nói không” với
nó, mà phải nhìn thẳng vào khó khăn, tìm ra mọi biện pháp để giải quyết.
“Thần tốc và chắc thắng”
Cái
khó thường trực nhất với việc xây lắp trạm BTS là nhân lực có sức khoẻ,
sức trẻ và trình độ. Yêu cầu phát triển trạm BTS mới ngày càng cao,
trong khi nhân lực lại khan hiếm, vì vậy toàn xí nghiệp của Hưng phải
bàn tính phân chia các công đoạn trong công việc một cách hết sức cụ thể
và khoa học. Công việc được chia theo quy trình xây dựng và lắp đặt, cụ
thể như ban xây dựng nhà trạm, hệ thống tiếp đất; Ban kỹ thuật, lắp đặt
trạm BTS, đo kiểm, chạy thử… Hai ban này cùng nằm trong đơn vị, nên có
sự phối hợp chặt chẽ với nhau, “hợp đồng tác chiến” chặt ché để đẩy
nhanh tiến độ.
Thời gian cao điểm nhất tại
Viettel xây dựng, lắp đặt đạt 1.000 trạm/tháng. 6 tháng đầu năm 2008,
mỗi tháng xây dựng, lắp đặt 600-700 trạm. Theo kế hoạch mà Tổng Công ty
đề ra, từ 15/6/2008 đến 15/8/2008, phải hoàn thành việc xây dựng, lắp
đặt 3.000 trạm trên toàn quốc. Trong đó riêng khu vực I, khu vực mà
Nguyễn Thái Hưng trực tiếp điều hành xây lắp là 1.562 trạm. Bây giờ
ngoài việc đẩy nhanh tiến độ lắp đặt, còn phải tìm kiếm các địa điểm tốt
để tối ưu hoá được mạng lưới. Việc lắp đặt, xây dựng không chỉ bó gọn
trong thành phố, vùng đồng bằng, mà đi sâu vào từng bản, làng, từng khu
vực hải đảo xa xôi.
Sáng
kiến của Nguyễn Thái Hưng được coi là tiết kiệm thời gian, chi phí cho
toàn công ty là cài đặt vi-ba khi lắp đặt. Theo quy trình thông thường,
mỗi trạm vi-ba, sau khi lắp đặt xong, các nhân viên kỹ thuật phải đi
khai báo thông số kỹ thuật, nhập giữ liệu, đo kiểm… sau đó mới đưa vào
vận hành. Tuy nhiên, khoảng các giữa các trạm rất xa, địa điểm lắp đặt
lại cao, đòi hỏi mất rất nhiều thời gian và nhân lực. Trung bình mỗi
tuyến vi-ba phải mất từ 1-2 ngày. Sau thời gian suy nghĩ, Hưng tự hỏi,
tại sao không tập hợp các thiết bị vi-ba lại với nhau, nạp các thông số
kỹ thuật, cài đặt, đo kiểm, rồi mới mang lên lắp đặt, vừa tiết kiệm thời
gian, chi phí di chuyển, nhân, vật lực… khi thực hiện sáng kiến này của
Hưng, thời gian để nạp thông số kỹ thuật, đo kiểm, đưa vào vận hành chỉ
mất khoảng 1 giờ. Sáng kiến này của Hưng được Tổng công ty ghi nhận và
tôn vinh.